Ít có cụm từ nào trong Kinh Thánh vừa quen thuộc vừa dễ bị hiểu lầm như “Con Người”. Nhiều người đọc cho rằng nó là vế đối của “Con Đức Chúa Trời”: một danh hiệu chỉ nhân tính của Đức Giê-xu, danh hiệu kia chỉ thần tính của Ngài. Thật ra cụm từ này cổ xưa hơn và lạ lùng hơn thế. Trong tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng A-ram, đó là một cách nói bình thường để chỉ “một con người”. Trong một khải tượng ở sách Đa-ni-ên, nó mô tả một nhân vật trông giống con người và đến cùng những đám mây trên trời. Trong các sách Phúc Âm, nó trở thành danh xưng mà Đức Giê-xu dùng cho chính mình nhiều hơn bất kỳ danh xưng nào khác.
Open Word Bible dịch cụm từ này khác nhau ở những chỗ khác nhau, vì ở mỗi chỗ nó làm một việc khác nhau. Bài viết này theo dấu cụm từ ấy qua Cựu Ước rồi vào các sách Phúc Âm, và trình bày những quyết định đằng sau mỗi lựa chọn.
Một lưu ý trước khi đọc: phần Cựu Ước của Open Word Bible chưa được dịch sang tiếng Việt, nên những câu trích từ Thi Thiên, Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên dưới đây hiện ra bằng bản tiếng Anh, và những gì bài viết nói về lời văn của các câu ấy là nói về bản tiếng Anh. Các câu trích từ Mác và Giăng thì đã có bản tiếng Việt.
Một cụm từ bình thường
Tiếng Hê-bơ-rơ thường nói “con của” ở chỗ tiếng Việt nói “người” hay “một thành viên của”. “Con của sức mạnh” là một người mạnh mẽ; “các con của các nhà tiên tri” là những nhà tiên tri họp thành một nhóm. Vì vậy, “con của người”, בֶּן־אָדָם֙ (ben ʾādām), đơn giản có nghĩa là một thành viên của loài người. Chữ thứ hai cũng là chữ dùng cho A-đam và cho cả loài người nói chung.
Thi Thiên 8 cho thấy cụm từ này được dùng thế nào. Tác giả ngước nhìn bầu trời đêm và lấy làm lạ rằng Đức Chúa Trời lại để ý đến con người:
thì loài người là gì mà ngài nhớ đến, và con của loài người là gì mà ngài thăm viếng?
Đó là cấp độ Sát nghĩa của bản tiếng Anh, với các cài đặt đọc của người đọc giữ nguyên. Hai vế của câu nói cùng một điều hai lần, như thơ Hê-bơ-rơ thường làm: “người” và “con của người” là hai từ song song chỉ một con người, nhỏ bé và hay chết dưới bầu trời bao la. Quyết định về nghĩa của câu này nói đúng như vậy. (Các bản Kinh Thánh tiếng Anh và tiếng Việt quen thuộc đánh số câu này là 8:4; Open Word Bible theo cách đánh số của bản Hê-bơ-rơ, vốn tính phần tiêu đề là câu 1.)
Vì cụm từ này chỉ bất kỳ con người nào, nam hay nữ, nên trong thi thiên này nó chịu ảnh hưởng của cài đặt giới tính. Theo mặc định, cấp độ Sát nghĩa trong tiếng Anh nói “a mortal” (một người phàm), và người đọc nào ưa cách nói truyền thống có thể đổi cài đặt để thấy “the son of man” (con của người). Cài đặt thay đổi cách diễn đạt, không thay đổi ý nghĩa: cả hai đều nói “một con người”. Cách nói truyền thống được giữ làm phương án thay thế vì một lý do mà bản ghi nêu ra. Hê-bơ-rơ 2:6–8 trích thi thiên này và hiểu nó là nói về Đức Giê-xu, con người duy nhất đã được “đội mão vinh quang và tôn trọng”. Người đọc so sánh hai đoạn ấy nên có thể thấy cùng những chữ ở cả hai nơi. (Trong bản tiếng Việt của Hê-bơ-rơ 2:6, cấp độ Sát nghĩa nói “con của loài người”, viết thường, và không có cài đặt giới tính, vì “con người” và “loài người” trong tiếng Việt vốn đã bao gồm cả nam lẫn nữ.)
Dân Số Ký 23:19 dùng cụm từ này theo cùng cách: Đức Chúa Trời không phải là con người để nói dối, cũng không phải là “con của loài người” để đổi ý. Ở đây điều được đối chiếu là sự đáng tin cậy của Đức Chúa Trời và sự hay thay đổi của con người, và cấp độ Cân bằng tiếng Anh nói đơn giản là “a mortal” (một người phàm).
Ê-xê-chi-ên: “Hỡi con người, hãy đứng dậy”
Cụm từ này xuất hiện trong sách Ê-xê-chi-ên nhiều hơn bất cứ nơi nào khác trong Cựu Ước. Trong chương đầu, nhà tiên tri thấy vinh quang của Đức Chúa Trời, một khải tượng về lửa, bánh xe và ngai, rồi ông sấp mặt xuống. Bấy giờ có tiếng phán:
He said to me, “Son of man, stand up on your feet, and I will speak with you.”
Đức Chúa Trời không bao giờ gọi Ê-xê-chi-ên bằng tên. Ngài gọi ông là “con người”, khoảng chín mươi ba lần trong cả sách. Quyết định về nghĩa nói cụm từ này làm gì ở đây. Đặt cạnh vinh quang rực rỡ của chương 1, nó nhắc Ê-xê-chi-ên rằng ông là một tạo vật hay chết đang đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Nó cũng nói lên một điều về Đức Chúa Trời: Ngài đã chọn phán với một con người và sai người ấy đi.
Nhiều bản Kinh Thánh tiếng Anh hiện đại dịch cụm từ này theo nghĩa của nó. Chẳng hạn, bản New Revised Standard Version nói “O mortal” (hỡi người phàm). Open Word Bible thì không. Một quyết định về cách diễn đạt ghi lại phán quyết của người sáng lập rằng “son of man” được giữ ở mọi cấp độ, kể cả Dễ đọc, để người đọc gặp lại cùng những chữ ấy mỗi lần Đức Chúa Trời gọi nhà tiên tri. Cụm từ được viết thường, vì nó không phải là một danh hiệu, và không chịu cài đặt giới tính, vì ở đây nó chỉ một người đàn ông cụ thể.
Cũng chú thích ấy nêu thêm một điểm. Lời gọi Ê-xê-chi-ên không phải là danh hiệu “Con Người” mà Đức Giê-xu dùng. Danh hiệu ấy đến từ một nơi khác: từ một khải tượng trong sách Đa-ni-ên.
Đa-ni-ên 7: “một đấng giống như con người”
Đa-ni-ên 7 được viết bằng tiếng A-ram, ngôn ngữ của phần lớn Đa-ni-ên 2–7, và hình thức A-ram của cụm từ này là כְּבַ֥ר אֱנָ֖שׁ (kĕbar ʾĕnāsh), “giống như con của người”. Nó xuất hiện ở cao điểm của một giấc chiêm bao.
Đa-ni-ên thấy bốn con thú từ biển lên: một con sư tử có cánh chim đại bàng, một con gấu, một con beo có bốn đầu, và con thú thứ tư dữ tợn hơn cả, có răng bằng sắt và một cái sừng nói những lời khoác lác. Rồi các ngai được đặt, và Đấng Thượng Cổ ngự xuống, áo Ngài trắng như tuyết, ngai Ngài là ngọn lửa. Các con thú bị xét xử. Và rồi:
As I watched in the visions of the night, I saw one like a son of man coming with the clouds of heaven. He came to the Ancient of Days and was presented before him.
Quyết định về nghĩa thứ nhất của bản ghi đọc kỹ những chữ này. “Giống như” chỉ một sự giống nhau, cũng như con thú thứ nhất “giống như sư tử” và con thứ hai “giống như gấu” (câu 4–5). Sau bốn sinh vật từ biển lên là một đấng trông giống con người và đến cùng những đám mây. Những chữ ấy mô tả điều Đa-ni-ên thấy. Chúng chưa phải là một danh hiệu.
Hai quyết định khác bổ sung thêm. Ở những chỗ khác trong Cựu Ước, mây đi kèm với sự đến của chính Đức Chúa Trời (Thi Thiên 104:3; Ê-sai 19:1), và trong khải tượng, nhân vật này đi cùng mây đến gần ngai, vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tuy vậy, người không phải là Đức Chúa Trời: người được đưa đến trước Đấng Thượng Cổ, và bản văn giữ cho hai đấng tách biệt. Rồi người nhận lấy những gì các con thú chỉ nắm giữ trong một thời gian:
He was given authority, glory and kingly power, so that all peoples, nations and languages would serve him. His authority is an everlasting authority that will never pass away, and his kingdom will never be destroyed.
Động từ “phục vụ” ở đây là động từ Đa-ni-ên dùng cho việc phục vụ và thờ phượng một vị thần (3:12, 14, 28). Một quyết định về nghĩa, được đánh dấu chưa chắc chắn, ghi rằng nó không nhất thiết có nghĩa là thờ phượng theo nghĩa trọn vẹn, nhưng đó là sự tôn kính dành cho Đức Chúa Trời.
Nhân vật ấy là ai?
Đa-ni-ên xin được giải thích, và một thiên sứ giải thích cho ông. Bốn con thú là bốn vua, hay bốn vương quốc. Rồi thiên sứ nói rằng “các thánh của Đấng Chí Cao” sẽ nhận lấy vương quốc và nắm giữ nó đời đời (câu 18), và cuối cùng rằng vương quốc sẽ được ban cho “dân của các thánh của Đấng Chí Cao” (câu 27). Điều đã được ban cho đấng giống như con người trong khải tượng thì trong lời giải thích được ban cho các thánh của Đức Chúa Trời.
Vậy người là ai? Người đọc đã đưa ra nhiều câu trả lời, và bản ghi của câu 13 trình bày chúng trong một chú thích được đánh dấu chưa chắc chắn:
- người có thể tượng trưng cho các thánh như một tập thể, cũng như mỗi con thú tượng trưng cho một vương quốc;
- người có thể là thủ lĩnh hay đại diện trên trời của họ, đôi khi được đồng nhất với thiên sứ trưởng Mi-ca-ên, người xuất hiện về sau trong sách Đa-ni-ên như đấng bảo vệ Y-sơ-ra-ên (10:21; 12:1);
- người có thể là một vị vua Mê-si-a.
Cả các nhà giải kinh Do Thái lẫn Cơ Đốc đều đã hiểu người là Đấng Mê-si-a. Tân Ước nhiều lần nhắc lại khải tượng này. Đức Giê-xu nói về Con Người đến với hoặc trên những đám mây trên trời (Ma-thi-ơ 24:30; 26:64; Mác 13:26; 14:62). Khải Huyền 1:7 loan báo rằng “Ngài đến cùng những đám mây”, và vài câu sau, Giăng thấy Đức Giê-xu phục sinh như “một đấng giống như con người” (1:13).
Một số nhà giải kinh chỉ ra rằng những cách hiểu này không nhất thiết loại trừ nhau. Trong Kinh Thánh, một vị vua có thể đại diện cho dân mình, và điều xảy đến cho vua cũng xảy đến cho dân. Một nhân vật đại diện cho các thánh, nhận lấy vương quốc thay cho họ và chia sẻ vương quốc ấy với họ, sẽ phù hợp với cả khải tượng lẫn lời giải thích. Theo cách nhìn đó, cách hiểu của Tân Ước không xa Đa-ni-ên: vương quốc được ban cho Con Người, và qua Ngài, cho những ai thuộc về Ngài.
Bản ghi không chọn giữa những cách hiểu này. Nó giữ lời mô tả của chính khải tượng và để ngỏ câu hỏi.
Điều này thể hiện trong lời văn. Ở mọi cấp độ của bản tiếng Anh, nhân vật ấy là “one like a son of man” (một đấng giống như con người), viết thường, và các đại từ chỉ người (“he”, “him”) không chịu cài đặt đại từ chỉ Đức Chúa Trời, là cài đặt sẽ viết hoa chúng cho người đọc nào ưa như vậy. Đại từ chỉ Đấng Thượng Cổ trong cùng câu thì có chịu cài đặt ấy. Một quyết định về cách diễn đạt giải thích lý do: khải tượng mô tả nhân vật ấy, và lời văn không quyết định người là ai. Cấp độ Dễ đọc đưa ra nghĩa đơn giản của câu A-ram: “someone who looked like a human being” (một người trông giống như con người).
Đa-ni-ên 7 không phải là nơi cuối cùng hình ảnh này xuất hiện trong văn chương Do Thái. Một phần của sách 1 Hê-nóc gọi là Các Ẩn Dụ, hay Các Dụ Ngôn (chương 37–71), nói về một nhân vật trên trời được gọi là “Con Người ấy”, Đấng Được Chọn, ngồi trên ngai vinh quang và xét xử. Niên đại của phần này còn được tranh luận: đó là phần duy nhất của 1 Hê-nóc không có trong các Cuộn sách Biển Chết, và các học giả xếp nó vào bất cứ thời điểm nào từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đến cuối thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Một sách khải thị khác, 4 E-xơ-ra, viết vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, thấy “một cái gì đó giống như hình dạng một người” từ biển lên và bay cùng những đám mây trên trời (chương 13). Cả hai cho thấy người Do Thái thời ấy hiểu nhân vật của Đa-ni-ên là một cá nhân và là một tác nhân trên trời của Đức Chúa Trời.
Trong các sách Phúc Âm
Trong các sách Phúc Âm, cụm từ này xuất hiện khoảng tám mươi lần, và hầu như luôn ở trên môi miệng Đức Giê-xu. Không ai trong các sách Phúc Âm gọi thẳng Ngài là “Con Người”, và không ai tuyên xưng đức tin nơi Ngài bằng danh xưng ấy. Khi đám đông trong Giăng 12:34 dùng nó, họ đang lặp lại lời của chính Ngài: “Con Người này là ai?” Ngoài các sách Phúc Âm, cụm từ này hiếm gặp. Ê-tiên dùng nó một lần khi sắp chết (Công Vụ Các Sứ Đồ 7:56), và Khải Huyền thấy “một đấng giống như con người” (1:13; 14:14). Phao-lô không hề dùng nó.
Hình thức tiếng Hy Lạp là ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου, dịch từng chữ là “người con của người ấy”, với mạo từ xác định ở cả hai danh từ. Mạo từ kép này là cách nói lạ trong tiếng Hy Lạp, và nó đọc lên giống như một bản dịch cẩn thận của một cụm từ Xê-mít. Các học giả thường chia những câu nói của Đức Giê-xu thành ba nhóm, và sách Mác có cả ba.
Con Người trên đất. Khi một người bại được thả xuống qua mái nhà, Đức Giê-xu nói với anh rằng tội anh đã được tha. Các thầy thông giáo phản đối rằng chỉ Đức Chúa Trời mới tha tội được, và Đức Giê-xu đáp:
Nhưng ta muốn các người biết chắc điều này: Con Người có thẩm quyền tha tội trên đất.” Rồi ngài quay sang người bại liệt.
Quyết định về nghĩa hiểu danh hiệu này là cách Đức Giê-xu nói về chính mình, gợi nhớ Đa-ni-ên 7:13–14, nơi một đấng giống như con người nhận thẩm quyền từ Đức Chúa Trời. Nó ghi “bất kỳ con người nào” là phương án thay thế không được chọn. Cùng nhóm này có Mác 2:28, nơi Con Người là chủ của ngày Sa-bát, và Ma-thi-ơ 8:20, nơi Ngài không có chỗ gối đầu.
Con Người chịu khổ. Tại Sê-sa-rê Phi-líp, ngay sau khi Phi-e-rơ gọi Ngài là Đấng Mê-si-a, Đức Giê-xu bắt đầu nói theo một cách mới:
Rồi ngài bắt đầu dạy họ rằng Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo loại bỏ, bị giết, và sau ba ngày sẽ sống lại.
Không có chỗ nào trong Đa-ni-ên 7 nói rằng nhân vật ấy chịu khổ. Đây là điều mới. Bản ghi lưu ý rằng động từ “loại bỏ” là chữ của Thi Thiên 118:22, hòn đá bị thợ xây loại bỏ, và chữ “phải” chỉ về mục đích của Đức Chúa Trời đã được chép từ trước. Trong Mác 10:45, Con Người “không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”. Một quyết định về nghĩa ở đó, được đánh dấu chưa chắc chắn, ghi rằng đây có thể là một sự đảo ngược có chủ ý của Đa-ni-ên 7:14, nơi mọi dân tộc phục vụ đấng giống như con người. Trước khi được phục vụ, Ngài phục vụ.
Con Người sẽ đến. Nhóm thứ ba nói về vinh quang. Tại phiên xét xử, thầy tế lễ thượng phẩm hỏi Đức Giê-xu có phải là Đấng Mê-si-a, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không, và Đức Giê-xu đáp:
Đức Giê-xu nói: “Chính ta là Đấng ấy. Và các người sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Đấng Quyền Năng và đến giữa những đám mây trên trời.”
Ở đây bản ghi nói rõ mối liên hệ. Đức Giê-xu ghép hai đoạn Kinh Thánh: Thi Thiên 110:1, nơi Chúa bảo vị vua ngồi bên phải Ngài, và Đa-ni-ên 7:13, nơi một đấng giống như con người đến cùng những đám mây đến với Đức Chúa Trời. Thầy tế lễ thượng phẩm xé áo mình, và hội đồng kết án Ngài tội phạm thượng (14:63–64). Dù cụm từ ấy còn mang nghĩa nào khác, vào lúc đó nó được nghe như một lời tuyên bố ngồi bên cạnh Đức Chúa Trời.
Phúc Âm Giăng dùng danh hiệu này theo cách riêng. Lần đầu tiên nó xuất hiện, Na-tha-na-ên vừa gọi Đức Giê-xu là “Con Đức Chúa Trời” và “Vua của Y-sơ-ra-ên”, và Đức Giê-xu đáp bằng danh hiệu Ngài chọn cho chính mình:
Rồi ngài nói với ông: “Thật vậy, thật vậy, ta nói với các anh: các anh sẽ thấy trời mở rộng, và các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên đi xuống trên Con Người.”
Một chú thích chỉ về giấc chiêm bao của Gia-cốp tại Bê-tên, nơi các thiên sứ đi lên đi xuống trên một cái thang giữa đất và trời (Sáng Thế Ký 28:12). Đức Giê-xu nói rằng giờ đây chính Ngài là nơi trời và đất gặp nhau.
Một từ thường ngày hay một danh hiệu?
Nếu “con người” chỉ có nghĩa là “một con người”, thì làm sao nó trở thành một danh hiệu? Các học giả đã tranh luận về điều này hơn một thế kỷ, và chưa có sự đồng thuận.
Geza Vermes lập luận rằng trong tiếng A-ram thời Đức Giê-xu, “con của người” có thể là một cách khiêm tốn, gián tiếp để nói về chính mình, đại khái như khi người Việt nói “người ta” để chỉ mình (“người ta đã cố hết sức rồi”). Theo cách nhìn đó, Đức Giê-xu không phải lúc nào cũng ám chỉ Đa-ni-ên; Ngài nói về chính mình một cách gián tiếp, và về sau Hội Thánh mới nghe thấy nhân vật của Đa-ni-ên trong lời Ngài. Những người phê bình, trong đó có Joseph Fitzmyer, đặt câu hỏi liệu các nguồn tiếng A-ram đúng thời kỳ ấy có thật sự cho thấy cách dùng đó hay không. Những người khác cho rằng Đức Giê-xu đã cố ý nhận lấy nhân vật của Đa-ni-ên, và những câu nói về sự chịu khổ đã kết hợp nhân vật ấy với người đầy tớ chịu khổ trong Ê-sai 53. Lại có những người nghĩ rằng một số câu nói bắt nguồn từ Đức Giê-xu, còn một số khác được Hội Thánh đầu tiên định hình. Bên dưới cuộc tranh luận có một điểm đơn giản hơn mà phần lớn đều chấp nhận được. Cụm từ này đủ bình thường để mang tính khiêm tốn, và đủ bí ẩn để còn để ngỏ. Nó cho phép Đức Giê-xu nói một điều về chính mình mà không dùng một danh hiệu, như “Đấng Mê-si-a”, vốn đã gắn liền với những kỳ vọng định sẵn.
Các bản ghi không tìm cách giải quyết vấn đề lịch sử. Chúng mô tả điều bản văn nói: trong các sách Phúc Âm, Đức Giê-xu dùng cụm từ này cho chính mình, và nó gợi nhớ Đa-ni-ên 7:13–14. Đó là cách hiểu tại Mác 2:10, 8:31 và 14:62, tại Ma-thi-ơ 8:20 và tại Giăng 1:51.
Chữ hoa, và “Người Nhân Loại”
Như vậy, cụm từ này xuất hiện dưới hai hình thức trong Open Word Bible, và sự khác biệt là có chủ ý.
Ở đâu nó là một lời mô tả, nó được viết thường: “son of man” trong Ê-xê-chi-ên và trong Đa-ni-ên 8:17, nơi Gáp-ri-ên gọi Đa-ni-ên cũng bằng cách ấy; “one like a son of man” trong Đa-ni-ên 7:13 (bản tiếng Anh) và “một Đấng giống như con người” trong Khải Huyền 1:13, với “con người” viết thường. Hình thức trong Khải Huyền không có mạo từ trong tiếng Hy Lạp, và bản ghi ở đó lưu ý rằng nó lặp lại lời mô tả của Đa-ni-ên chứ không phải danh hiệu trong các sách Phúc Âm, dù câu 17–18 cho thấy nhân vật ấy là Đức Giê-xu. Quyết định về cách diễn đạt tiếng Việt ở đó giữ “con người” viết thường để không biến cụm từ thành danh hiệu “Con Người”, và dùng chữ “Đấng” để cho thấy đó là Đấng Christ phục sinh.
Ở đâu nó là danh hiệu Đức Giê-xu dùng, nó được viết hoa, ở mọi cấp độ: “the Son of Man” trong tiếng Anh, “Con Người” trong tiếng Việt. Các quyết định về cách diễn đạt tại Mác 2:10 và Giăng 1:51 ghi rằng danh hiệu này không bao giờ chịu cài đặt giới tính. Trong tiếng Anh, chúng liệt kê những phương án không được chọn: “the Human One” (Người Nhân Loại), như bản Common English Bible dùng, và “the Son of the Human”. Những cách dịch này làm nổi bật một điều có thật, vì cụm từ này quả có nghĩa là một con người. Nhưng trong các sách Phúc Âm nó đã trở thành một danh xưng, và một danh xưng giữ hình thức quen thuộc của nó để người đọc có thể theo nó từ Đa-ni-ên đến phiên xét xử trước thầy tế lễ thượng phẩm. Trong tiếng Việt, quyết định tại Giăng 1:51 cũng chọn “Con Người” viết hoa, chứ không phải “con người” viết thường.
Từ đó người đọc rút ra hai điều. Thứ nhất, “Con Người” không chỉ đơn giản là nửa nhân tính trong một cặp với “Con Đức Chúa Trời”. Nó có nói rằng Đức Giê-xu là con người, nhưng nó cũng chỉ về nhân vật đến cùng những đám mây và nhận một vương quốc đời đời. Thứ hai, khi cụm từ này xuất hiện trong Ê-xê-chi-ên hay Thi Thiên, nó không phải là một ám chỉ ngầm về Đức Giê-xu. Nó có nghĩa đúng như điều nó nói: một con người, hay chết và nhỏ bé, mà Đức Chúa Trời đã chọn để đoái đến và để phán với.
Các bản ghi đầy đủ, cùng những phương án thay thế và chú thích, có trong trang đọc: Mở Đa-ni-ên 7, Mở Ê-xê-chi-ên 2, Mở Thi Thiên 8 và Mở Mác 14. Xem thêm đấng giống như con người trong Khải Huyền 1 và lời Đức Giê-xu đáp Na-tha-na-ên trong Giăng 1.