Lịch sử cuộc tranh luận về ngôn ngữ giới tính trong các bản Kinh Thánh tiếng Anh, từ bản NRSV đến NIV 2011, ESV và CSB, được kể trong bài Ngôn ngữ giới tính trong bản dịch. Bài này xem xét kỹ hơn một từ trong cuộc tranh luận ấy, và những gì Open Word Bible làm với từ ấy, từng câu một.
Từ ấy là ἀδελφός, adelphos, “anh em” hay “người anh em”. Ở số nhiều, ἀδελφοί, adelphoi, đó là cách Phao-lô thường dùng để gọi một hội thánh, và nó xuất hiện khắp sách Công Vụ, Gia-cơ, Hê-bơ-rơ và các thư của Giăng và Phi-e-rơ. Trong các bản ghi Tân Ước của chúng tôi, nó mang một cài đặt đọc hơn năm trăm lần.
Số nhiều trong tiếng Hy Lạp vận hành thế nào
Tiếng Hy Lạp, cũng như tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Pháp, dùng số nhiều giống đực cho một nhóm gồm cả nam lẫn nữ. Người nói tiếng Tây Ban Nha gọi một anh trai và một chị gái là hermanos; người nói tiếng Hy Lạp có thể gọi họ là adelphoi. Vì vậy, chỉ riêng hình thức số nhiều không cho biết phụ nữ có được bao gồm hay không. Chỉ văn mạch mới cho biết.
Đôi khi văn mạch nói là không. Trong Ma-thi-ơ 12:46, mẹ và các anh em của Đức Giê-xu đến tìm Ngài, và bản ghi nói họ là các anh em ruột của Ngài, những người được nêu tên trong 13:55. Không có cài đặt nào áp dụng ở đó; từ ấy chỉ nam giới.
Đôi khi văn mạch nói là có, một cách rõ ràng. Trong Phi-líp 4:1, Phao-lô viết “anh em của tôi”, và ngay câu kế tiếp ông nêu tên hai phụ nữ trong hội thánh ấy, Ê-vô-đi và Sin-ti-cơ, và nài xin họ đồng lòng với nhau. Quyết định về ý nghĩa của chúng tôi cho câu 4:1 xác định nghĩa là “các anh chị em tín hữu, cả nữ lẫn nam”, và lấy câu 2 làm lý do:
Vậy, thưa anh chị em thân yêu của tôi, là những người tôi yêu thương và mong được gặp, là niềm vui và mão miện của tôi: hãy đứng vững trong Chúa như vậy, các bạn thân yêu.
Phần lớn thời gian, bằng chứng không gây ấn tượng mạnh như vậy nhưng cũng rõ ràng không kém. Các thư của Phao-lô được viết cho cả hội chúng và được đọc lớn tiếng cho họ nghe. Bản ghi cho 1 Cô-rinh-tô 1:10 ghi nhận rằng tin về các cuộc tranh cãi đến từ “người nhà Cơ-lô-ê”, một gia đình do một phụ nữ đứng đầu, và lá thư về sau nói trực tiếp với phụ nữ (7:10–16; 11:5). Bản ghi cho Công Vụ 1:15 ghi nhận rằng Ma-ri và các phụ nữ khác vừa được nêu tên trong số 120 tín hữu nhóm lại. Bản ghi cho Công Vụ 6:3 ghi nhận rằng các sứ đồ nói với “toàn thể môn đồ” (6:2).
Ý nghĩa đi trước
Đây là thứ tự làm việc của các bản ghi chúng tôi. Trước hết, một quyết định về ý nghĩa cho biết từ ấy chỉ về ai. Chỉ sau đó, một quyết định về cách diễn đạt mới chọn lời văn.
Ở những chỗ quyết định về ý nghĩa kết luận rằng từ ấy bao gồm phụ nữ, lời văn mang một cài đặt đọc. Trong bản tiếng Anh, mặc định là “brothers and sisters”, với “brothers” là lựa chọn truyền thống. Trong bản tiếng Việt, mặc định là “anh chị em”, với “anh em” là lựa chọn truyền thống, như các bản dịch cũ vẫn nói. Rô-ma 12:1 là một trường hợp điển hình:
Vậy, thưa anh chị em, bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời, tôi nài khuyên anh chị em: hãy dâng thân thể mình cho Đức Chúa Trời làm của lễ sống, thánh và đẹp lòng ngài. Đó là sự thờ phượng hợp lẽ của anh chị em.
Quyết định về cách diễn đạt ở đó nói đơn giản rằng Phao-lô viết cho cả hội thánh, nữ cũng như nam, và người đọc có thể chọn cách nói truyền thống. Cả hai lựa chọn đều có cùng một nghĩa. “Anh chị em” nói điều ấy theo ngôn ngữ ngày nay; “anh em”, hiểu theo nghĩa bao hàm vốn có của nó, nói điều ấy theo hình thức của nguyên văn. Đó là phép thử cho mọi cài đặt trong bản dịch này: nó có thể thay đổi lời văn, không bao giờ thay đổi ý nghĩa (xem Cài đặt đọc thay đổi lời văn, không bao giờ thay đổi ý nghĩa).
Có hai điều đáng chú ý về cài đặt này.
Nó áp dụng ở mọi cấp độ, kể cả Sát nghĩa. Người ta có thể chờ đợi một bản dịch sát nghĩa giữ “anh em”. Nhưng cài đặt được lưu một lần trong mỗi câu, dưới dạng một cặp lựa chọn, và lựa chọn của người đọc áp dụng ở mọi nơi. Người đọc muốn “anh em” ở cấp Sát nghĩa có thể có, và ở cấp Cân bằng và Dễ đọc cũng vậy.
Nó theo ngữ pháp của câu. Cài đặt này không phải là thao tác tìm và thay thế. Trong bản tiếng Anh, adelphos số ít trở thành “a brother or sister”, như trong Ma-thi-ơ 5:22, nơi cơn giận đối với “a brother or sister” bị đưa ra xét xử; bản tiếng Việt ở đó nói “anh chị em mình”, với “anh em mình” là lựa chọn truyền thống. Một cụm như “brotherly love” trở thành “love for brothers and sisters”, tình yêu dành cho anh chị em. Và ở chỗ có đại từ theo sau, đại từ cũng thay đổi. Trong cấp Sát nghĩa tiếng Anh của 1 Giăng 3:17, lựa chọn truyền thống viết “sees his brother having need, and shuts his heart against him”, với các đại từ giống đực “his” và “him”; lựa chọn mặc định viết “sees their brother or sister having need, and shuts their heart against them”, với các đại từ không chỉ giới tính. Tiếng Việt ít gặp vấn đề này hơn, vì những từ như “mình” hay “người ấy” vốn không chỉ giới tính: cấp Sát nghĩa tiếng Việt của 1 Giăng 3:17 nói “thấy anh chị em mình có cần mà đóng lòng thương xót lại với người ấy”, và chỉ có “anh chị em” thay đổi theo cài đặt.
Khi không cần cài đặt
Đôi khi chính tiếng Hy Lạp nêu cả hai. Gia-cơ 2:15 nói ἀδελφὸς ἢ ἀδελφὴ, “một anh em hay một chị em”. Quyết định về cách diễn đạt ở đó ghi nhận rằng vì tiếng Hy Lạp nêu cả hai, bản dịch cũng nêu cả hai, và không cần cài đặt. Ma-thi-ơ 12:50 cũng tương tự: Đức Giê-xu nói rằng ai làm theo ý muốn của Cha Ngài thì “người ấy là anh em, chị em và mẹ” của Ngài, với chữ “chị em” có trong tiếng Hy Lạp. Bản ghi nhận xét rằng không có chị em nào được nêu tên ở ngoài cửa, vậy mà Đức Giê-xu vẫn kể các chị em vào số những người làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Và đôi khi cấp Dễ đọc tránh hẳn từ chỉ quan hệ gia đình, để nói rõ ai được nhắc đến. Ở Công Vụ 1:15, cấp này nói “những người theo Đức Giê-xu”, như bản tiếng Anh nói “the followers of Jesus”. Ở 1 Giăng 3:17, bản tiếng Anh nói “a fellow believer” (một tín hữu); bản tiếng Việt nói “một anh chị em cùng đức tin”, vẫn là từ chỉ quan hệ gia đình nhưng không có cài đặt, và thêm “cùng đức tin” để nói rõ ai được nhắc đến. Đó vẫn là những quyết định về cách diễn đạt, xây dựng trên cùng một quyết định về ý nghĩa, và bản ghi nêu rõ chúng.
Khi điều đó chưa rõ ràng
Không phải trường hợp nào cũng dễ, và các bản ghi của chúng tôi nói rõ khi nào nó không dễ.
Khó nhất là Công Vụ 1:16. Phi-e-rơ đứng lên giữa 120 người và mở đầu bằng một lối xưng hô trang trọng dùng để mở đầu các bài nói trong sách Công Vụ: Ἄνδρες ἀδελφοί, sát chữ là “hỡi những người nam, hỡi anh em”. Từ đầu tiên là từ tiếng Hy Lạp dùng cho nam giới và người chồng, không phải từ chung chỉ con người. Quyết định về ý nghĩa của chúng tôi được đánh dấu là chưa chắc chắn và có kèm một chú thích. Những người nói trong sách Công Vụ dùng công thức này để mở đầu một bài nói (2:29; 13:26; 15:7), và Phi-e-rơ đang nói với một hội chúng có cả phụ nữ. Nhưng ông sắp đề nghị chọn một người nam thay thế Giu-đa (1:21), và có thể ở đây ông quay sang nói với những người nam. Bản ghi nói thẳng rằng điều này “không thể xác định được từ lời văn”.
Vì thế, cách dịch khác nhau theo cấp độ. Trong bản tiếng Anh, Sát nghĩa giữ cả hai từ Hy Lạp, “Men, brothers”, không có cài đặt. Trong bản tiếng Việt, Sát nghĩa nói “Thưa các anh em”, cũng không có cài đặt: quyết định về cách diễn đạt ghi rằng đó là lối xưng hô trang trọng trước một buổi nhóm trong tiếng Việt, và chữ “anh em” của nó vốn đã chỉ nam giới, nên không cần thêm chữ nào cho “những người nam”. Cân bằng và Dễ đọc, trong cả hai ngôn ngữ, dùng mặc định bao hàm, “Thưa anh chị em”, với “anh em” (“brothers”) là lựa chọn thay thế, vì hội chúng có cả nam lẫn nữ; quyết định về cách diễn đạt tiếng Anh ghi nhận rằng ghi chú về ý nghĩa đánh dấu điều này là chưa chắc chắn.
“Thưa các anh em, lời Kinh Thánh mà Đức Thánh Linh đã dùng miệng Đa-vít nói trước về Giu-đa, kẻ đã dẫn đường cho những người bắt Đức Giê-xu, phải được ứng nghiệm; vì người ấy đã được kể vào số chúng tôi và đã nhận phần trong chức vụ này.
Những câu khác có những câu hỏi nhỏ hơn. Trong Ga-la-ti 1:2, Phao-lô gửi lời chào từ “tất cả anh em đang ở với tôi”. Một số người đọc cho rằng ông chỉ muốn nói đến các đồng sự nam đang cùng đi với ông. Bản ghi của chúng tôi hiểu đó là các tín hữu đang ở với Phao-lô khi ông viết thư, và xem số nhiều giống đực là cách thông thường để nói về một nhóm có cả nam lẫn nữ. Một người duyệt hoàn toàn có thể đặt câu hỏi về điều đó, và bản ghi đưa ra lý do của mình để họ có thể làm vậy.
Anh chị em của Đức Giê-xu
Có một cách dùng vừa mang tính thần học vừa mang tính ngôn ngữ. Hê-bơ-rơ 2:11 nói rằng Đức Giê-xu “không hổ thẹn gọi họ là anh em”, rồi trích Thi Thiên 22: “Con sẽ rao truyền danh Ngài cho anh em của Con”. Điều tác giả muốn nói là Đức Chúa Con dự phần vào đời sống của những người Ngài cứu, cả huyết nhục, sự cám dỗ lẫn sự chết (2:14–18). Quyết định về ý nghĩa của chúng tôi nói rằng những người Đức Giê-xu gọi là anh em bao gồm cả phụ nữ, và vì thế cài đặt được áp dụng. Với lựa chọn mặc định, câu này nói rằng Đức Giê-xu không hổ thẹn gọi họ là “anh chị em” của Ngài.
Một số người đọc cảm thấy “anh em” giữ mối liên kết với thi thiên rõ hơn. Những người khác cảm thấy “anh chị em” làm cho điều tác giả muốn nói rõ hơn: Đức Chúa Con đã trở nên giống như tất cả chúng ta. Vì cả hai lựa chọn có cùng một nghĩa, Open Word Bible không phải chọn thay người đọc. Nó quyết định ý nghĩa, ghi lại lý do, và để lời văn cho cài đặt đọc.
Điều người đọc có thể kiểm tra
Mọi câu có cài đặt này đều có một quyết định về ý nghĩa cho biết ai được nói đến, và một quyết định về cách diễn đạt cho chính cài đặt ấy. Hãy chạm vào câu để xem chúng. Ở chỗ bản ghi nói “cả nữ lẫn nam”, lý do có ở đó; ở chỗ nó nói “chưa chắc chắn”, các phương án khác cũng có ở đó. Như mọi bản nháp của chúng tôi, các bản ghi này được soạn với sự hỗ trợ của AI và đang chờ những người duyệt có danh tính rõ ràng xem xét, những người có thể kiểm tra từng quyết định đối chiếu với văn mạch.
Mở Rô-ma 12, Phi-líp 4 hoặc Công Vụ 1 và chạm vào một câu để xem đầy đủ bản ghi.